Thứ Hai, ngày 29 tháng 8 năm 2011

"NƯỚC AN NAM VỪA DÂNG VẸT ĐỎ"

Chiều hôm qua, năm ngoái, Hà Nội trời mưa. Cả buổi chiều ngồi nhà mở "Toàn Đường thi" (thạch bản) ra đọc trong mưa gió dặt dìu. Đọc được bài thơ này của Bạch Cư Dị - một trong ba nhà thơ nổi tiếng nhất thời Đường, Trung Quốc, xin chép tặng chư vị đọc chơi buổi tối.

HỒNG ANH VŨ

Nguyên văn:


紅鸚鵡

安南遠進紅鸚鵡
色似桃花語似人
文章辯慧皆如此
籠檻何年出得身


Phiên âm: HỒNG ANH VŨ


An Nam viễn tiến hồng anh vũ

Sắc tự đào hoa, ngữ tự nhân.
Văn chương biện tuệ giai như thử,
Lung giám hà niên xuất đắc thân!

Dịch nghĩa:  
CHIM VẸT ĐỎ

An Nam xa xôi vừa dâng chim vẹt đỏ,

Màu lông giống tựa hoa đào, tiếng giống tiếng người.
Văn chương và học thuật nếu cũng đều như thế,
Vậy đến năm nào mới thoát khỏi kiếp chim lồng! 


The Red Cockatoo

Sent as a present from Annam

A red cockatoo.
Coloured like the peach-tree blossom,
...Speaking with the speech of men.
And they did to it what is always done
To the learned and eloquent.
They took a cage with stout bars
And shut it up inside.
(translated by Arthur Waley - bản dịch tiếng Anh của Arthur Waley, 
do Trang Hạ cung cấp).

Dịch thơ:
VẸT ĐỎ
 

Nước An Nam vừa dâng vẹt đỏ,
Nói tiếng người, lông tựa hoa đào.
Thông minh, văn vẻ vậy sao,
Kiếp chim lồng biết khi nào mới qua.

(Vũ Minh Tân dịch)

TIỂU SỬ NHÀ THƠ BẠCH CƯ DỊ 
 
Bạch Cư Dị (chữ Hán: 白居易) (772-846) tự là Lạc Thiên (樂天), hiệu là Hương Sơn cư sĩ là nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng thời nhà Đường. Tác phẩm nổi tiếng của Bạch Cư Dị ở Việt Nam có lẽ là bài Tỳ bà hành, Trường Hận Ca.

Tổ tiên ông là người gốc Thái Nguyên, Sơn Tây, sau di cư tới huyện Vị Nam, Thiểm Tây. Ông là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Đối với một số người yêu thơ văn thì người ta chỉ xếp ông sau Lý BạchĐỗ Phủ. Mười lăm tuổi ông đã bắt đầu làm thơ, thuở nhỏ nhà nghèo, ở thôn quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động.

Năm Trinh Nguyên thứ 16 (năm
800), ông thi đỗ tiến sĩ được bổ làm quan trong triều, giữ chức Tả thập di. Do mâu thuẫn với tể tướng Lý Lâm Phủ, ông chuyển sang làm Hộ Tào tham quân ở Kinh Triệu. Năm Nguyên Hòa thứ 10 (815), do hạch tội việc tể tướng Vũ Nguyên Hành bị hành thích và ngự sử Bùi Độ bị hành hung, nhóm quyền thần cho là ông vượt qua quyền hạn, đày làm tư mã Giang Châu. Giai đoạn tuừ năm 821 tới năm 824 làm thứ sử Hàng Châu, năm 825 làm thứ sử Tô Châu, sau được triệu về kinh làm Thái Tử thiếu phó. Năm Hội Xương thứ 2 (842) về hưu với hàm thượng thư bộ Hình, sau mất tại Hương Sơn, Lạc Dương.

Những năm đầu, ông cùng
Nguyên Chuẩn ngâm thơ, uống rượu, được người đời gọi là Nguyên Bạch. Sau này, khi Nguyên Chuẩn mất, lại cùng Lưu Vũ Tích, hợp thành cặp Lưu Bạch. Người đời tôn xưng ông là Thi Ma.

Ông chủ trương đổi mới thơ ca. Cùng với Nguyên Chẩn,
Trương Tịch, Vương Kiến, ông chủ trương thơ phải gắn bó với đời sống, phản ánh được hiện thực xã hội, chống lại thứ văn chương hình thức. Ông nói: "Làm văn phải vì thời thế mà làm... Làm thơ phải vì thực tại mà viết", mục đích của văn chương là phải xem xét chính trị mà bổ khuyết, diễn đạt cho được tình cảm của nhân dân. Thơ ông mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm biếm nhẹ nhàng kín đáo. Trường hận ca để nói mối tình đẹp của Đường Minh HoàngDương Quý Phi, nhưng đọc kỹ thì những ý châm biếm, mỉa mai kín đáo đều có. Ông cùng Nguyên Chẩn đề xướng phong trào Tân Nhạc Phủ, nên trong thơ, ông luôn công kích đời sống xa hoa dâm dật của bọn quý tộc, bóc trần sự bóc lột của bọn quan lại, thông cảm với nỗi thống khổ của dân chúng (Tần Trung Ngâm, Tân Nhạc Phủ).

Thơ ông thấm nhuần tư tưởng nhân đạo, nhân văn. Ông hòa đồng cùng dân chúng, không coi việc làm quan của mình là gì, mà thấy mình cũng bị cuộc đời làm cho bảy nổi ba chìm chẳng khác gì người đời (Tỳ bà hành). Ông thông cảm với những thân gái chịu bao tập tục hủ bại và cảnh nghèo túng mặc dù sắc đẹp thì chẳng thua ai (Nghị hôn).


Ông chủ trương thơ ca phải giản dị để dân chúng đều hiểu được. Không những thế, tình cảm, tư tưởng phải giàu tính nhân dân, nói được nỗi lòng của mọi người trước thế sự. Thơ ông giàu tính trữ tình. Khi ông bị đi đày từ Tràng An đến Tây Giang, ba bốn ngàn dặm, dọc đường thấy trường học, chùa chiền, quán trọ.... đều có đề thơ của mình, nên càng tự tin ở chủ trương của mình hơn.


Riêng hai bài Tỳ Bà Hành và Trường Hận Ca đã đủ tỏ tài thơ của Bạch Cư Dị. Bằng lối kể chuyện miêu tả, với chủ đề khác nhau, hai bài thơ dài của ông, bài thì bay bướm, hình ảnh đẹp, lời bình trầm lắng, ý ngoài lời, ca tụng, mỉa mai đều kín đáo; bài thì hoà đồng vào cảnh ngộ cùng nhân vật, viết lên những tâm trạng gửi gắm của cả hai, người gẩy -người nghe, vào tiếng đàn trên bến Tầm Dương, bài thơ da diết, buồn thấm thía mà nỗi đời thì vời vợi mênh mang.


Ngoài ra ông còn làm một số bài thơ về thiên nhiên, nhàn tản. Lối nói u hoài, vương một nỗi buồn riêng kín đáo. Ông thích đàm đạo về thiền, về Lão Trang, cũng như là biểu hiện trốn đời, sau khi đã quá ngán về nhân tình thế thái. Ông để lại khoảng trên 2.800 bài thơ.


Công trạng khi làm quan: Khi làm thứ sử Hàng Châu, thấy các công trình điều tiết nước cho
nông nghiệp đã bị bỏ hoang lâu ngày, ông đã cho tu tạo lại Tây Hồ, cho đắp đê tại đây, trên trồng liễu, đến nay vẫn còn và được gọi là Bạch đê. Khi làm thứ sử Tô Châu, ông cho đào một con sông đào nối Hổ Khâu ở phía tây với Xương Môn ở phía đông gọi là Sơn Đường hà.



Nguồn: Lý học Đông Phương 

-->đọc tiếp...

PGS.TS VŨ DUY THÔNG 12 NĂM TRƯỚC "LƯỠI CÒN CHƯA PHUN NỌC ĐỘC"

Thi Hữu

Vũ Duy Thông (ảnh bên) sinh năm 1944 tại Phúc Yên (Vĩnh Phúc). Năm 1979, ông xuất bản tập thơ đầu tay Nắng trung du. Những năm sau đó, ông lần lượt cho ra mắt các tập: Những đám lá đổi màu (1982), Tình yêu người thợ (1987), Gió đàn (1989), Trái đất không chỉ có một người (1991), Chối từ cô đơn (1998), Một trăm bài thơ (1999),  Và cuộc đời sẽ cứu rỗi (2003). Ông có học vị tiến sĩ mỹ học, có chức danh phó giáo sư, từng là vụ trưởng một vụ ở Ban tư tưởng – văn hóa trung ương (nay là Ban tuyên giáo trung ương), từng là phó tổng biên tập báo điện tử của Đảng cộng sản Việt Nam. Hiện nay Vũ Duy Thông nghỉ hưu ở Hà Nội. Nhân đọc bài “Cần nhận rõ những mưu đồ thâm độc” của nhà thơ, phó giáo sư, tiến sĩ Vũ Duy Thông đăng số ra ngày 22/8/2011 của báo Hà Nội Mới (cơ quan của Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam – Thành phố Hà Nội, Tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thủ đô) bôi nhọ và vu cáo những người biểu tình yêu nước ở thủ đô hai tháng qua, Thi Hữu tôi có hai việc trình với mọi người gần xa.

Thứ nhất, mời mọi người đọc bài thơ dưới đây của Vũ Duy Thông viết cách nay đúng một giáp, khi ông thăm thú Trung Quốc, vào đất Ba Thục của Lưu Bị xưa.. Đặc biệt chú ý đến khổ cuối, và nhất là câu thứ hai của khổ này mà Thi Hữu tôi xin bôi đậm. Đọc xong bài thơ ắt mọi người hiểu vì sao Vũ Duy Thông có bài báo đó.

 Uống rượu ở xứ người
 
Chiều nay vắt vẻo Phương Đình quán
Mây bay khuất nẻo rượu nghìn bình

Nghìn đôi mắt rắn ngâm trong rượu

Lặng lẽ nhìn người qua thủy tinh

Xưa nghe Tây Thục lắm rắn rết
Khe núi hổ mang đêm gầm rít

Mồ hoang rải rác đường lên trời

Nọc độc nghìn năm chưa tan hết

Xưa nghe xà tinh hiển hiện người
Dan díu duyên trần thân lạnh toát

Bao tình yêu rắn bị trời hành

Thân xác tan tành con côi cút

Nay hâm rượu nóng ngồi đọc thơ
Ngỡ mình thành vua miền cực lạc

Giữa nhà mồ rắn rượu rót tràn

Trong say cách trời ba bốn bước

Nửa đêm tỉnh giấc chợt rùng mình
Mừng lưỡi còn chưa phun nọc độc

Cay đắng cũng xin làm kiếp người

Mảnh tình phương nam xa xôi ơi

Thứ hai, Thi Hữu tôi mạn phép nhà thơ, phó giáo sư, tiến sĩ Vũ Duy Thông làm cái trò chơi ghép tên các tập thơ của ông thành một bài tứ tuyệt gọi là, trước để tặng riêng ông, sau để mọi người đọc vui.

Nắng trung du những đám lá đổi màu
Chối từ cô đơn tình yêu người thợ
Trái đất không chỉ có một người, hãy nhớ
Và cuộc đời sẽ cứu rỗi cho ai?

Thi Hữu tôi xin cảm tạ ông Thông và mọi người.

Hà Nội 29.8.2011
Tác giả gửi cho Quê choa
Nguồn: Quê Choa

-->đọc tiếp...

NỮ SĨ KIM ANH: CHÚT LÒNG YÊU NƯỚC TỪ SAU ...XIN CHỪA

Chút lòng yêu nước từ sau … xin chừa
Kim Anh

Tôi đi biểu tình vì rất nhiều lý do:

Bởi không cầm được nước mắt khi vào những đêm mất ngủ, nhớ đến ông anh mới 17 tuổi đã ngã xuống ở chiến trường Đại Lộc, Quảng Nam trong chiến tranh chống Mỹ vào năm 1969, được đem chôn chỉ với mảnh quần đùi trên người vì quần áo phải lột ra để người sống mặc, tôi không muốn để một lần nữa, mảnh đất mà bao người VN trong đó có anh tôi hy sinh để giành lấy, lại rơi vào tay quân xâm lược.

Tôi đi bởi không thể quên tiếng khóc hờ chồng hằng đêm của người thiếu phụ sống gần nhà - vợ một sĩ quan QĐND VN hy sinh trên một cao điểm nơi biên giới vào năm 1979, khi TQ tấn công VN.

Tôi đi bởi tim tôi đau nhói trước hình ảnh những người lính Việt Nam cầm cờ đỏ sao vàng trên đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của VN, bị đạn trên tàu chiến Trung Quốc bắn xối xả gục chìm xuống khi không có khả năng kháng cự, cũng không thể trốn tránh vào đâu được giữa biển mênh mông nước vào năm 1988.

Tôi đi bởi nỗi phẫn uất khi thấy những người đàn ông ngư dân Việt vạm vỡ khỏe mạnh, đang đánh cá trên ngư trường quen thuộc ngàn đời của cha ông, bỗng phải bất lực ôm đầu ngồi dưới họng súng lính TQ, với lý do bị bắt vì xâm phạm chủ quyền lãnh hải Trung Hoa.

Tôi đi bởi văn hóa TQ lại đang lấn át, hàng giả hàng rởm của TQ đang tràn ngập thị trường VN… Bởi nhiều lắm những điều xấu đến từ phương Bắc.

Nỗi tức giận cứ dồn lên ứ nghẹn đã từ lâu nhưng khó bề giải tỏa, vậy nên khi biết có biểu tình chống TQ, tôi đã xuống đường. Khi hòa vào dòng người yêu nước, được nhìn những khẩu hiệu yêu nước, được nghe những tiếng hô vang với quyết tâm bảo vệ đât nước, tôi trào nước mắt và thấy lòng nhẹ nhõm.

Cũng như nhiều người khác hiện nay, tôi lúc nào cũng bận rộn, suốt ngày hết việc nọ đến việc kia vì cơm áo gạo tiền, chỉ có một chút thôi thời gian, một chút thôi tình cảm dành cho đất nước vào mấy sáng chủ nhật hiếm hoi vừa rồi, vậy mà tôi bị ngăn cản.

Lực cản đến từ nhiều phía, CA đến nhà, gia đình, bè bạn lo sợ khuyên can mắng mỏ, báo đài Hà Nội đua nhau buộc tội người biểu tình, lại còn có hẳn một ông PGS – TS kiêm nhà thơ (nghe qua mấy cái danh hiệu đã biết là đầu óc thuộc loại hổ lốn) nhân danh yêu nước chân chính để chụp mũ chúng tôi. Tất cả những điều đó khiến tôi buồn chán. Cổ nhân có câu “Có cứng mới đứng đầu gió”, tôi vốn không phải người cứng rắn.

Tối nay lại vừa bị ông bạn thân cho một bài choáng váng hết cả người. Buồn quá, thôi đành… “chút lòng yêu nước từ sau… xin chừa”[1], để nước cho mấy ông bà GS, PGS - TS kiêm nhà thơ nhà báo nhà văn nhạc sĩ họa sĩ ca sĩ v.v… yêu cho đúng cách, tôi là người dân thường, chỉ biết yêu nước bằng cách biểu tình. Giờ thấm mệt rồi, nghỉ thôi!

Đã bụng bảo dạ như vậy mà không hiểu sao cứ thấy uất nghẹn trong lòng.

Không thể chịu nổi, có lẽ sáng mai phải tìm một chỗ đất nào đó đào lấy cái lỗ mà … hô xuống đấy vậy!

Nghĩ đến đây tôi tự cho mình mơ mộng lạc quan một chút:

Biết đâu, từ cái hố ấy lại mọc lên một cây thông thẳng tắp vươn trên nền trời cao, ngày đêm reo vang trong gió:

HOÀNG SA – VIỆT NAM; TRƯỜNG SA – VIỆT NAM
BẢO VỆ MÁU THỊT VIỆT NAM – BẢO VỆ!

K.A

[1] Nhại Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du

*Bài viết do Nữ sĩ Kim Anh gửi trực tiếp cho NXD-Blog. 
Xin chân thành cảm ơn tác giả! 

-->đọc tiếp...