Blogger Widgets

Thứ Hai, ngày 19 tháng 12 năm 2011

LUẬT SƯ CỦA BÀ BÙI THỊ MINH HẰNG CHÍNH THỨC GỬI ĐƠN KHIẾU NẠI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
________________________
Hà Nội, ngày 18  tháng 12 năm 2011

ĐƠN KHIẾU NẠI
Về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với bà
 Bùi Thị Minh Hằng

       Kính gửi: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo

I. Người khiếu nại:
Bà Bùi Thị Minh Hằng, sinh ngày 20/07/1964, hộ khẩu thường trú tại số 106 Lê Hồng Phong, phường 4, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Hiện bà Bùi Thị Minh Hằng đang bị cưỡng bức giáo dục tại Cơ sở giáo dục Thanh Hà, địa chỉ xã Gia Khánh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc thuộc quản lý của Tổng cục Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an.
Liên hệ gia đình: Bùi Trung Nhân, con trai bà Bùi Thị Minh Hằng trú tại số 90 C5 Lê Hồng Phong, phường 7, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, điện thoại 0165.5535.606.
Căn cứ điểm a, khoản 1, điều 17 của Luật khiếu nại, tố cáo, quy định:
“Người khiếu nại có các quyền:… vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được uỷ quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác để khiếu nại;”
Người được ủy quyền khiếu nại: Luật sư Hà Huy Sơn, Văn phòng luật sư Trần Vũ Hải địa chỉ 81 phố Chùa Láng, quận Đống Đa, Hà Nội thuộc Đoàn luật sư Hà Nội theo Giấy ủy quyền ngày 15/12/2011 – kèm theo. 
II.  Người bị khiếu nại:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo vì đã ban hành Quyết định số 5225/QĐ-UBND ngày 08/11/2011 do Phó Chủ tịch Vũ Hồng Khanh ký thay về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với bà Bùi Thị Minh Hằng. (QĐ 5225/QĐ-UBND ngày 08/11/2011 – kèm theo) 
III. Nội dung:
Khoảng trưa ngày 27/11/2011, nghe tin ở Hà Nội công an bắt một số người tại khu vực Bờ Hồ Hoàn Kiếm vì cho rằng họ có hành vi tự phát biểu thị thái độ ủng hộ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Quốc hội đưa vào chương trình làm việc khóa 13 của Quốc hội ban hành Luật biểu tình, bà Bùi Thị Minh Hằng cùng 03 người khác đã đứng giơ trên tay mảnh giấy ghi “Phản đối đàn áp người ủng hộ Quốc hội ra luật biểu tình” ở cạnh khu vực Nhà thờ Đức Bà. Sau đó bà Hằng bị bắt đưa vào Công an phường Bến Nghé, quận I, Tp.Hồ Chí Minh. Ngày 28/11/2011 bà Hằng được đưa đến Cơ sở giáo dục Thanh Hà, tỉnh Vĩnh Phúc và được giao Quyết định số 5225/QĐ-UBND ngày 08/11/2011 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục.
Việc Chủ tịch ban hành Quyết định 5225/QĐ-UBND ngày 08/11/2011 nêu trên đã vi phạm các quy định của pháp luật như sau:
Thứ nhất:
Căn cứ điều 87 “Nội dung quyết định đưa vào cơ sở giáo dục” của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, quy định:
Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của người bị đưa vào cơ sở giáo dục; hành vi vi phạm pháp luật của người đó; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng; thời hạn và nơi thi hành quyết định; quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định đưa vào cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật.”
Thế nhưng, Quyết định 5225/QĐ-UBND ngày 08/11/2011 không ghi “điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng;”.
Thứ hai:
Căn cứ điều 87 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì Quyết định phải ghi rõ “nơi cư trú của người bị đưa vào cơ sở giáo dụcnhưng Quyết định 5225/QĐ-UBND lại ghi:
“Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú nhất định”
Để xác định nơi cư trú của bà Bùi Thị Minh Hằng thì phải căn cứ vào quy định của Luật cư trú năm 2006.
Khoản 1, điều 12 của Luật cư trú năm 2006, quy định:
Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.
Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.
Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.”
Và khoản 1, điều 24 của Luật cư trú năm 2006, quy định:
"Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân.”
Bà Bùi Thị Minh Hằng có chỗ ở hợp pháp và thường xuyên sinh sống được Giấy chứng nhận QSDĐ và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB558764 do UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cấp 07/09/1999 là ở số 106 Lê Hồng Phong, phường 4, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Bìa GCN – kèm theo).
Mặt khác, Sổ hộ khẩu do Công an thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cấp và CMND số 273278857 do công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cấp ngày 25/11/2004 và ngay tại điều 1 của Quyết định 5225/QĐ-UBND ngày 08/11/2011 của Chủ tịch UBND Tp.Hà Nội đều xác định nơi thường trú của bà Bùi Thị Minh Hằng là số 106 Lê Hồng Phong, phường 4, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Như vậy nơi cư trú của bà Bùi Thị Minh Hằng là 106 Lê Hồng Phong, phường 4, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Như vậy, với các bằng chứng và các căn cứ pháp luật nêu trên cho thấy việc Quyết định 5225/QĐ-UBND ngày 08/11/2011 của Chủ tịch UBND Tp.Hà Nội cho rằng bà Hằng “Không có nơi cư trú nhất định” là không đúng.
Thứ ba:
Căn cứ khoản 1, điều 3 của Nghị định số 76/2003/NĐ-CP ngày 27/06/2003 và Nghị định số 125/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 sửa đổi, bổ sung, quy định:
“Đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục
Người có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây có tính chất thường xuyên (có từ hai lần vi phạm trở lên trong thời hạn 12 tháng), nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có nơi cư trú nhất định:”
Bà Bùi Thị Minh Hằng không phải là người không có nơi cư trú nhất định vì vậy bà Hằng không phải là đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục như quy định tại các Nghị định nêu trên và điều 25 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002.
Thứ tư:
Căn cứ khoản 2, điều 86 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, quy định:
“Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và phải được gửi ngay cho người bị đưa vào cơ sở giáo dục, cơ quan Công an cấp tỉnh, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.”
Quyết định 5225/QĐ-UBND ký ngày 08/11/2011 thế nhưng đến ngày 28/11/2011 (tức 20 ngày sau) sau khi bị bắt bà Bùi Thị Minh Hằng mới được nhận, trong khi bà Hằng có địa chỉ nhà ở tại số 106 Lê Hồng Phong, Tp. Vũng Tàu nơi bà Hằng ở cùng với con trai là Bùi Trung Nhân 18 tuổi.
Kết luận: Quyết định số 5225/QĐ-UBND ngày 08/11/2011 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với bà Bùi Thị Minh Hằng có nơi cư trú tại số 106 Lê Hồng Phong, phường 4, Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là hoàn toàn trái pháp luật.
Căn cứ điều 71, Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, quy định:
Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.
Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân.”
Căn cứ khoản 1, 2, 4, 5 điều 9 của Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị năm 1966, Việt Nam tham gia năm 1982, quy định:
“Điều 9:  
1. Ai cũng có quyền tự do thân thể và an ninh thân thể. Không ai có thể bị bắt giữ hay giam cầm độc đoán. Không ai có thể bị tước đoạt tự do thân thể ngoại trừ những trường hợp và theo những thủ tục luật định.
2. Khi bị bắt giữ, bị cáo phải được tức thì thông báo về lý do bắt giữ, và phải được thông báo không chậm trễ về tội trạng bị cáo buộc.
4. Những người bị bắt giữ hay giam cầm đều có quyền yêu cầu toà án thụ lý không chậm trễ về tính hợp pháp của sự giam giữ, và phải được phóng thích nếu sự giam giữ được xét là bất hợp pháp.
5. Các nạn nhân trong những vụ bắt giữ hay giam cầm bất hợp pháp có quyền khiếu tố đòi bồi thường thiệt hại.”

YÊU CẦU:

1- Ông Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội hủy ngay Quyết định số 5225/QĐ-UBND ngày 08/11/2011 về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với bà Bùi Thị Minh Hằng;
2-  Trả tự do ngay và bồi thường danh dự cùng các thiệt hại về tinh thần, vật chất cho bà Bùi Thị Minh Hằng do việc ban hành Quyết định số 5225/QĐ-UBND ngày 08/11/2011 của Chủ tịch gây ra.
Hy vọng Ông Chủ tịch thực hiện đúng quy định của pháp luật và xứng danh là Chủ tịch của Thành phố vì hòa bình và Thăng Long 1000 năm văn hiến.
Trân trọng,
Nơi nhận:                                                                               Người làm đơn 
-   Như trên;
-   Bà Bùi Thị Minh Hằng;
-   Ông Bùi Trung Nhân;
-   Lưu VP, 04b.
                                                                                           Luật sư Hà Huy Sơn

Phụ lục
- QĐ 5225/QĐ-UBND
- Giấy ủy quyền cho luật sư 




-->đọc tiếp...

REUTERS: LÃNH TỤ BẮC HÀN KIM JONG IL QUA ĐỜI Ở TUỔI 69

North Korea state TV says Kim Jong il has died

(Reuters) - North Korean leader Kim Jong-il died Saturday on a train trip, a tearful state television announcer, dressed in black, reported Monday.
The announcer said that the 69-year old had died of physical and mental over-work on his way to give "field guidance." He had suffered a stroke in 2008, but appeared to have recovered. The reclusive state had begun the process of transferring power to his son Kim Jong-un, believed to be in his late 20s.


(Created by David Chance; Editing by Jack Kim)

BBC đưa tin:
Lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong-il qua đời
Cập nhật: 03:24 GMT - thứ hai, 19 tháng 12, 2011
.
Truyền hình nhà nước Bắc Triều Tiên loan báo lãnh đạo Kim Jong-il vừa qua đời, gây chấn động cho toàn dân.

Thông tin về cái chết của ông được thông báo trên truyền hình quốc gia trong một bản tin đầy xúc động.

Phát thanh viên truyền hình mặc đồ tang nói ông Kim chết hôm thứ Bảy 17/12, vì làm việc quá sức về cả tinh thần và thể chất.

Ông Kim Jong-il năm nay 69 và sức khỏe đã kém nhiều năm nay.

Thông báo trên tryền hình cũng nói lãnh tụ Kim, ngơười dẫn dắt dân tộc từ khi cha ông, Kim Il-sung, chết năm 1994, đã qua đời trên tàu hỏa khi đang đi thăm một khu vực bên ngoài thủ đô.

Cái chết của ông khiến cho toàn dân Bắc Triều Tiên vô cùng bàng hoàng.

Con trai thứ ba Kim Jong-un của ông, người mới hơn 20 tuổi, từng được trông đợi sẽ lên kế nhiệm ông, nhưng chưa có thông tin chính thức nào được công bố trong quốc gia bí mật này.

Năm 2008, được tin ông Kim bị đột quỵ nhưng năm nay ông đã có chuyến thăm Trung Quốc và Nga, trong đó các bức hình và video chụp ông khi công bố cho thấy ông khỏe mạnh và nhanh nhẹn.

Cũng có tin nói ông Kim, người thích hút xì gà, ưa rượu cô nhắc và món ăn ngon, bị tiểu đường và bệnh tim mạch.

Hãng thông tấn Nam Hàn Yonhap đưa tin quân đội nước này đã được lệnh báo động sau khi nghe tin lãnh tụ Bắc Hàn qua đời; và Hội đồng An ninh Quốc gia triệu tập ngay một cuộc họp khẩn.
Nguồn: BBC Tiếng Việt.

Báo chí Việt Nam đưa tin:
- VietNamnet: Chủ tịch CHDCND Triều tiên Kim Jong Il qua đời
- VNExpress: Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong il qua đời
- Dân trí: Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-il qua đời
- Bee:Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Il qua đời

15h12: Tổng hợp tin tức do trang Ba Sàm thực hiện:

- Lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong-il qua đời(BBC). – Chủ tịch Bắc Hàn Kim Jong Il qua đời(NV). – Lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Jong Il qua đời(VOA). – Nhà lãnh đạo Kim Jong Il qua đời (TT). – Chủ tịch CHDCND Triều Tiên Kim Jong Il qua đời (VNN). - Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Il qua đời (Bee). – Hàn Quốc báo động khẩn khi lãnh đạo Triều Tiên qua đời (VNN). – Hàn Quốc họp khẩn cấp Ủy ban An ninh Quốc gia (TTXVN). – Phản ứng các nước về cái chết của Chủ tịch Triều Tiên (VNE). – Nhật, Mỹ sát sao dõi theo Triều Tiên (VNN). – Điểm mặt những nhà lãnh đạo chết ‘bất đắc kỳ tử’ (Đất Việt). – Mỹ cam kết vì sự ổn định trên bán đảo Triều Tiên (TTXVN). – Triều Tiên bắn đại bác tưởng niệm ông Kim Jong Il (Bee). – Những hoạt động ngoại giao gần đây của ông Kim Jong il (Bee).

- Video báo tang của Đài truyền hình quốc gia: North Korean State TV announces Kim Jong Il’s death (14sJakeB190):




-->đọc tiếp...

GS HÀ VĂN TẤN VIẾT VỀ THẦY ĐÀO DUY ANH

 
Trước mắt chúng tôi, những người học trò của ông, ông giống như một lâu đài đồ sộ mà mỗi chúng tôi chỉ nhìn thấy một phần trang trí nội thất qua một cánh cửa sổ. Cánh cửa đó, đối với tôi, là sử học.

Không! Ông không chỉ là nhà sử học. Chúng ta đã mất đi một nhà bách khoa, một nhà văn hóa lớn. Đóng góp của ông cho văn hóa dân tộc thật là lớn lao.

Những quyển Hán - Việt từ điển, Pháp - Việt từ điển của ông đã được thế hệ trước chúng tôi coi là những công cụ văn hóa thiết yếu đến kịp thời và được các nhà ngôn ngữ học hiện nay đánh giá là những đóng góp lớn vào việc xây dựng tiếng Việt hiện đại.

Và còn biết bao công trình khác về văn hóa và văn học từ những quyển sách trong Quan Hải tùng thư những năm 20 cho đến Việt Nam văn hóa sử cương, Khổng giáo phê bình tiểu luận, Khảo luận về Kim Vân Kiều… và gần đây hơn Sở từ, Khóa hư lục, Ức Trai thi tập, Từ điển Truyện Kiều… Trước mắt chúng tôi, những người học trò của ông, ông giống như một lâu đài đồ sộ mà mỗi chúng tôi chỉ nhìn thấy một phần trang trí nội thất qua một cánh cửa sổ. Cánh cửa đó, đối với tôi, là sử học.

Tôi đến với thầy Đào và sử học rất muộn. Mãi đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, hòa bình lập lại, năm 1955, tôi mới được làm sinh viên của ông, mới được nghe những bài giảng của ông ở giảng đường Đại học Sư phạm Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi được giữ lại làm tập sự trợ lý của ông, cùng với một số anh em khác. Được làm học trò của ông là một điểm may mắn trong đời chúng tôi. Những tác phẩm sử học của ông viết trước Cách mạng tháng Tám sau này chúng tôi mới có dịp đọc. Nhưng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, những quyển sử của ông in trên giấy đen, như Việt Nam lịch sử giáo trình (Phòng chính trị Liên khu IV xuất bản), đã đến tay chúng tôi. Có thể nói, ông đã gieo cho chúng tôi niềm say mê sử học từ ngày đó.

Trong các sách ông viết trong thời kháng chiến chống Pháp, có một cuốn mỏng, có tên là Muốn hiểu sử học, in ở Thái Bình năm 1950. Quyển sách có ba phần: 1 - Đối tượng và công dụng của sử học; 2 - Quan niệm lịch sử và 3 - Phương pháp của sử học. Chỉ vẻn vẹn có 38 trang, thế mà trong đó ông đã trình bày khá đầy đủ học thuyết Mác về lịch sử.

Ông đã viết: “Thuyết duy vật sử quan là thuyết duy vật biện chứng của Các Mác áp dụng vào địa hạt lịch sử… Khác với quan niệm duy tâm cho rằng lịch sử là sự nghiệp các bậc vĩ nhân anh hùng hoạt động theo ý chí riêng của mình, quan niệm duy vật cho lịch sử là sự nghiệp của con người trong tập đoàn, do điều kiện sinh hoạt trong tập đoàn hạn định.

Các Mác nói: “Chính con người làm nên lịch sử của mình nhưng không phải làm một cách độc đoán mà phải tùy thuộc những điều kiện đã định và thừa hưởng ở quá khứ…”

Quyển sách còn dành nhiều trang cho phương pháp sử học, mà ông chia ra các bước như sưu tầm sử liệu, giám định sử liệu, trần thuật và thuyết minh sử tự. Ở đây, ông đã tiếp thu có phê phán phương pháp của các nhà sử học Lăng - gloa và Xen - nhô - bốt mà ông cho rằng “phải bổ khuyết bằng phương pháp lịch sử duy vật”. Ông rất chú ý đến lịch sử kinh tế và đặc biệt là lịch sử văn hóa. Quyển Việt Nam văn hóa sử cương viết năm 1938 là bộ sử toàn diện đầu tiên về văn hóa Việt Nam. Đáng tiếc là cho đến nay chúng ta vẫn chưa có một quyển lịch sử văn hóa Việt Nam khác: do vậy, công trình của ông vẫn là độc nhất. Ông không chỉ là người có công tham gia mở đầu cho nền sử học mới mà còn là người vun đắp, xây dựng không biết mệt mỏi cho nó. Sau ngày hòa bình lập lại, ông đã viết Lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX), hai tập Cổ sử Việt Nam, Lịch sử cổ đại Việt Nam (bốn tập).

Sách của ông đã được dịch ở Liên Xô và Trung Quốc. Đồng thời ông chú tâm đến việc công bố các sử liệu Việt Nam quan trọng. Ông đã để công hiệu đính bản dịch Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Phủ biên tạp lục… Mặt khác, ông đã góp phần to lớn vào việc đào tạo đội ngũ các nhà nghiên cứu sử học hiện nay. Ông dạy chúng tôi bằng tấm gương lao động nghiêm túc của ông. Vì ông là một bác học, ông muốn chúng tôi cũng hiểu biết thật nhiều.

Và do đó, ông buộc chúng tôi phải học rất nhiều. Ông là người đã khuyên chúng tôi học tiếng Nga và các cổ ngữ Phương Đông. Ông đã nói: “Không thể hiểu văn hóa Trung Quốc, văn hóa Ấn Độ, anh không thể nào hiểu đầy đủ văn hóa Việt Nam!”.

Ông thường đặt yêu cầu rất cao đối với các học trò của mình. Khi bắt đầu làm trợ lý cho ông, tôi mới 20 tuổi, ông đã giao cho công việc chú thích Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Tôi đã hoàn thành công trình này nhờ sự chỉ bảo ân cần của ông.

Tri thức về địa lý lịch sử của ông thật uyên bác. Chúng ta đều biết đến các tác phẩm Đất nước Việt Nam qua các đời của ông. Trong công tác sử học, ông đặc biệt chú trọng việc giám định sử liệu. Cũng nhờ ông mà tôi hiểu biết chút ít về sử liệu học, văn bản học.

Trong khi nghiên cứu lịch sử cổ trung đại Việt Nam, ông đã kết hợp chặt chẽ nguồn sử liệu chữ viết với nguồn sử liệu khảo cổ. Ông đã viết về văn hóa Đông Sơn, đã nghiên cứu trống đồng. Ông là người mở đường cho chúng tôi đến với khảo cổ học. Tất nhiên là ông không dừng lại ở các sử liệu và các sự kiện.

Ngay trong Muốn hiểu sử học, ông đã viết: “Sử học không phải chỉ là hồi phục những sự trạng đã qua để cho người ta thấy được các trạng thái sinh hoạt của người xưa, mà còn phải xét rõ ngọn gốc bày rõ lai lịch và tìm hiểu đường lối tiến triển của các sự trạng, để cuối cùng tìm ra những quy luật đã chi phối sự biến thiên của các sự trạng, tức sự diễn tiến của các quá trình lịch sử”.

Ông luôn luôn nhắc nhở chúng tôi tìm mối liên hệ giữa các sự kiện trong nghiên cứu khoa học. Đó là bài học quý báu mà chúng tôi nhận được từ ông. Mấy hôm nay, tôi đang viết một tài liệu về Phật giáo thời Lý Trần. Trước mặt tôi luôn luôn có tập Khóa hư lục mà ông đã dịch. Tôi đã đọc đi đọc lại câu thơ của Tuệ Trung luận về sự sống chết của con người, mà ông dịch là: Người ngu đảo ngược sợ sống chết, Người trí nhìn thấu xem thoải mái, Ấy thế mà vẫn vô cùng đau đớn khi nghe tin thầy Đào ra đi, dẫu biết rằng, sự nghiệp văn hóa của thầy là bất tử.

GS. Hà Văn TấnNguồn: Bee.
-->đọc tiếp...

PHẢN HỒI BÀI VIẾT CỦA TRẦN NGỌC VƯƠNG VỀ "GIỚI TRÍ THỨC TINH HOA"

Một số suy nghĩ sau khi đọc "Giới trí thức tinh hoa trong lịch sử Việt Nam"
của Trần Ngọc Vương
Nguyễn Vinh Anh

Xin kính chào tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện và các quý vị,

Bài viết vừa lên rất đáng chú ý, nhưng vì chủ đề quá lớn, nên tôi  chỉ dám lạm bàn một vài điểm, mà tôi thấy ngay là rất đáng suy nghĩ. 

Tiếp nối một số luận điểm ở phần đầu bài, chủ yếu dựa trên các đúc kết của học giả Trần Đình Hượu về những giới hạn của giới Nho sĩ, tác giả đi đến nhiều nhận định tổng quát về giới chuyên gia, trí thức thời thuộc Pháp, và giai đoạn sau Cách mạng, trước và sau "các đấu tố" 1960-1970. 

Các nhận xét về sự bất lực của giới nhà nho cựu học trong việc hiện đại hóa đất nước là điều có lẽ không còn cần phải bàn cãi, vì điều này đã được nhà cải cách Phan Chu Trinh phê phán một cách rất triệt để, và nhiều học giả trước 1945 cũng đã tiếp tục hướng này.

Về trí thức, giới chuyên môn trước 1945:

Vấn đề vẫn đang còn dở dang chính là  nhóm những người mà tác giả gọi là “tầng lớp trí thức bản xứ”. Đây là tầng lớp mà di sản để lại rất đa dạng, mà hiện nay sự hiểu biểu về họ chắc chắn còn rất thiếu, trong tình trạng tư liệu tản mát và các nghiên cứu về giai đoạn này nhìn chung chưa thực sự phát triển.

Chính ở đây, khái quát mà tác giả đưa ra rất cần phải được xem xét lại, cả trên phương diện tư liệu, cũng như về các thao tác nhận thức. Khi tác giả viết: "Chất lượng của một tầng lớp trí thức như vậy (tức tầng lớp trí thức bản xứ), xét trên tương quan của một sự so sánh lịch đại, nghĩa là so sánh về khả năng đáp ứng những nhu cầu phát triển từng thời điểm lịch sử khác nhau, chắn chắn là còn kém hơn thời kỳ tiền thực dân.", thì chắc chắn cần phải làm rõ xem, dựa trên những thao tác so sánh nào mà tác giả rút ra nhận định xác quyết này?

Về trí thức, giới chuyên môn sau 1945:

Từ chỗ phê phán toàn bộ giới nhà nho, lướt qua giai đoạn trước 1945 coi như không có gì thực sự đáng nói, tác giả đi thắng đến kết luận dưới đây (kết luận này tạm hiểu ngầm là dành cho giai đoạn hiện tại, nếu không phải là cho toàn bộ lịch sử Việt Nam): 

"Có thể nói, ở ta mới có những người trí thức lớn,- không đông lắm mà nói thực thì cũng chưa được “lớn” lắm - nhưng chưa thể nói rằng đã có giới trí thức tinh hoa. Mà chừng nào trí thức tinh hoa chưa thành một giới, nôm na là núi không có đỉnh, thì khó lòng bàn đến “tầm” trí tuệ Việt Nam, tuy đó là điều không hiếm người thành tâm khao khát khẳng định".

Đây là một nhận định, nghe vẻ ngoài thì rất có vẻ có lý, vì nó được suy ra từ những cái không đáng kể của những giai đoạn trước (mà tác giả vừa trình bày), để luận về hiện tại, hoặc về toàn thể. Điểm tích cực của quan điểm này là nó dội một gáo nước lạnh vào những người vẫn còn sống trong trạng thái hoang tưởng của chủ nghĩa tự tôn dân tộc mù quáng. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ, những kẻ đã bị rơi vào hoang tưởng rồi thì khó có gì có thể đưa họ ra nổi, ngoại trừ thực tế phũ phàng.

Còn đối với độc giả bình thường thì sao?

Những người mà tác giả gọi là “thành tâm khao khát” thì thuộc loại nào đây, hoang tưởng hay bình thường?

Có lẽ bài viết này sẽ dễ dàng thuyết phục được những ai chỉ biết đến có một loại "núi", một loại "đỉnh". Từ chỗ nói rằng "núi" ở Việt Nam không có đỉnh , tác giả kết luận không thể bàn đến "tầm" (cao của) trí tuệ Việt Nam.

Cá nhân tôi, khi đọc đến đến đây, tôi có cảm giác tác giả đã đẩy lô gíc của sự ngụy biện đi đến một cái "đỉnh". Vậy mục đích của sự ngụy biện này là gì?

Theo tôi, thực tế mà nói, đã có "núi" là ít nhiều có "đỉnh", đỉnh thấp hay cao mà thôi. Và, không thể vì cho rằng, những trí thức lớn không đông, mà không đủ tạo thành một giới. Phủ nhận những cái đỉnh cao tương đối đó, phủ nhận một giới trí thức tinh hoa nhất định, dù số lượng hết sức ít ỏi ấy, chính là phủ nhận một cách hết sức tinh vi khả năng vượt lên của "trí tuệ Việt Nam", của văn hóa Việt Nam (bao gồm cả những người gốc Việt, sống ở khắp nơi trên thế giới, vẫn tự coi là người Việt Nam).

Phải chăng bản chất của thái độ, một mặt, tích cực đối thoại với những kẻ hoang tưởng, tin tưởng một cách thành tâm vào một tầm trí tuệ Việt Nam siêu việt không có thật (những kẻ này thường thuộc nhóm nắm quyền lực), và mặt khác, phủ nhận sự tồn tại của những đỉnh cao trí tuệ tương đối dù còn rất ít ỏi trong xã hội Việt Nam (thường thuộc vào nhóm mang tư tưởng cải cách), không gì khác hơn chính là để biện minh một cách tinh vi cho sự khoanh tay ngoảnh mặt của nhiều nhóm người, ngầm hoặc công khai tự coi là "trí thức", trước các vấn đề trọng yếu của xã hội, mà người trí thức đích thực phải coi như là các thách thức đối với chính bản thân mình ?

Phải chăng một thái độ như vậy chính là để biện minh cho sự vắng mặt của những khát vọng vượt lên bản thân, vươn lên tầm nhân loại ở trong chính con người họ? một thái độ như thế chính là để củng cố một tâm lý "hòa cả làng"? một tâm lý khuất phục cúi đầu? …  

Còn nhiều câu hỏi đặt ra từ đây, nhưng theo tôi hiểu, các bài viết mà tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện đưa ra cùng lúc với bài viết này, có thể đã chính là những phản biện gián tiếp trước thái độ ngụy biện đáng sợ trong bài viết này.  

N.V.A
*Bài do tác giả gửi trực tiếp cho NXD-Blog.
Xin chân thành cám ơn tác giả!

-->đọc tiếp...

Ý NGHĨA CHUYẾN THĂM VIỆT NAM CỦA ÔNG TẬP CẬN BÌNH

Ý nghĩa chuyến thăm VN của Phó chủ tịch TQ Tập Cận Bình 

Gia Minh, biên tập viên RFA (2011-12-18)

Phó chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình, vào ngày 20 tới đây sẽ có chuyến thăm chính thức Việt Nam.
AFP Photo/Feng Li

Phó chủ tịch TQ Tập Cận Bình trong buổi lễ đón tiếp PTT Nam Phi Kgalema Motlanthe
tại Đại Sảnh Đường Nhân Dân ở Bắc Kinh hôm 28/09/2011.
Chuyến đi này mang ý nghĩa gì trong bối cảnh quan hệ Việt - Trung có một số trở ngại về tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, cũng như hoạt động lấn lướt của Trung Quốc tại vùng biển đó?

Gia Minh hỏi chuyện giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, khoa Bang giao Quốc tế, Đại học George Mason tại bang Virginia, Hoa Kỳ. Trước hết ông đưa ra nhận định về chuyến đi Việt Nam sắp đến của ông Tập Cận Bình. 

Thủ tục ngoại giao 

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Một số nhà bình luận đã cho biết việc đưa ông Tập Cận Bình sang Việt Nam là để ‘đánh bóng’ cho ông ta. Lý do vì sang năm ông Tập Cận Bình trở thành chủ tịch nước Trung Quốc. Họ để ông đi Việt Nam, Thái Lan và sau đó chuẩn bị cho ông đi Mỹ nữa nhằm vừa thử thách vừa nêu cao ông lên.

Theo tôi chuyến đi của ông Tập Cận Bình còn liên quan đến thủ tục ngoại giao nữa. Tôi nhớ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam (hồi tháng giêng năm rồi), Việt Nam có cử một người sang Trung Quốc và đưa lời mời chủ tịch và tổng bí thư Trung Quốc sang thăm Việt Nam. Phía Trung Quốc chờ ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm để rồi họ đáp lễ; nhưng ông Trọng chỉ là tổng bí thư đảng thôi; còn tổng bí thư Đảng CS Trung Quốc còn là chủ tịch nước nữa. Trong khi đó chủ tịch nước Việt Nam lại thăm Ấn Độ chứ chưa sang thăm Trung Quốc. Nên họ cử ông phó chủ tịch nước Tập Cận Bình sang, và cũng theo lời mời của bà phó chủ tịch nước Việt Nam, và của Trung ương Đảng VN.

obama-australia-16nov2011-250.jpg
Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama duyệt hàng quân danh dự khi đến Úc. 16/11/2011. AFP photo. 

Theo tôi nghĩ điều quan trọng nhất là Trung Quốc cũng muốn phản ứng lại trước một loạt những cuộc viếng thăm của các nhà lãnh đạo Mỹ sang Châu Á như của bà ngoại trưởng Hillary Clinton, rồi tổng trưởng quốc phòng Leon Panetta, và của cả tổng thống Barack Obama.

Lần này Trung Quốc đưa ông Tập Cận Bình sang thăm Việt Nam, Thái Lan và đồng thời ông Đới Bỉnh Quốc sang thăm Miến Điện. Đặc biệt trong tháng này ông Đới Bỉnh Quốc lại đi gặp bà Aung San Suu Kyi nữa. Điều đó cho thấy Trung Quốc liệu theo chiều phát triển ở Á Châu mà đi theo họ chứ không còn cưỡng lại như xưa nữa.

Gia Minh: Có ý kiến cho rằng Việt Nam là nước nhỏ bên Trung Quốc, và lâu nay Trung Quốc có chính sách bành trướng xuống phía nam, ‘nam dụ’. Giáo sư thấy ý kiến đó chính xác thế nào?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Khuynh hướng bành trướng ảnh hưởng, không phải chiếm đất, quốc gia lớn nào cũng có. Trung Quốc là nước lớn ở Á Châu nên họ muốn đóng vai trò chủ yếu, không nói là vai trò độc tôn tại Á Châu. Việt Nam ở sát nách Trung Quốc mà lại là nước cộng sản nữa; cho nên Trung Quốc tập trung rất nhiều vào Việt Nam. Việt Nam ở vị trí chiến lược rất quan trọng giữa Trung Quốc và Đông Nam Á.

Theo tôi nghĩ điều quan trọng nhất là Trung Quốc cũng muốn phản ứng lại trước một loạt những cuộc viếng thăm của các nhà lãnh đạo Mỹ sang Châu Á.
GS Nguyễn Mạnh Hùng
Nếu họ khống chế được Việt Nam họ sẽ khống chế được Đông Nam Á. Dĩ nhiên họ không hy vọng khống chế được Việt Nam; nên họ tìm cách ảnh hưởng rất nhiều đến Việt Nam. Do đó làm các nước Đông Nam Á phải đi theo, đó là mục tiêu, vì thế các quốc gia Đông Nam Á muốn Việt Nam cứng rắn hơn, tức độc lập hơn với Trung Quốc.

Những tuyên bố gần đây của những nhà lãnh đạo Việt Nam cho thấy họ khó có thể nhượng bộ hơn được nữa. Nhất là trong chuyến thăm của ông thứ trưởng quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh để tham gia hội nghị đối tác chiến lược lần thứ hai với Trung Quốc, ông cũng nói rõ khi đến thăm trường đại học Quốc Phòng tại Trung Quốc rằng hai đảng phải liên hệ và khác biệt giữa hai phía là biển đảo. Căn cứ để giải quyết khác biệt đặt trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và độc lập của nhau dựa trên luật quốc tế, dù hai nước có cùng lý tưởng.

Tại Việt Nam trong mùa hè rồi có những cuộc biểu tình chống Trung Quốc, thì tôi nghĩ Việt Nam không thể có những nhượng bộ hơn nữa với phía Trung Quốc. 

Tận dụng cơ hội 

Gia Minh: Sau những phát biểu của giới lãnh đạo Việt Nam như thế, và nay có cuộc viếng thăm của nhân vật sắp trở thành chủ tịch nước và tổng bí thư đảng Trung Quốc như thế, Việt Nam có thể tận dụng cơ hội này để đạt được những điều mong muốn ra sao? 

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Tất nhiên Trung Quốc muốn xoa dịu Việt Nam vì sợ Việt Nam đi gần với Mỹ. Vấn đề là họ xoa dịu bằng cách nào và Việt Nam đòi gì? Gần đây chúng ta thấy có người như ông Jerome Cohen tuyên bố tại Hong Kong rằng Trung Quốc có thể nhượng bộ về vấn đề Hoàng Sa vì ông Tập Cận Bình biết luật.

submarine-kilo-636-250.jpg
Tàu ngầm loại kilo 636 Việt Nam mua của Nga. RFA-Screen cap/ hoangsa.org. 

Quan hệ về vấn đề Hoàng Sa là quan hệ về pháp lý, về chủ quyền của Việt Nam và Trung Quốc. Tôi nghĩ, trừ khi ông này có tin tức đặc biệt trong Trung Quốc, đây chỉ là một mơ ước viễn vông mà thôi. Bởi vì nếu chúng ta nhìn vào những chuyện xảy ra trên thế giới thì ta thấy chuyện khó xảy ra.

Như chuyện vào năm 1967 Do Thái chiếm cao điểm Golan của Syria, mà cao điểm này thuộc Syria rõ ràng, họ vẫn không trả lại. Rồi trong trường hợp hồi Đệ nhị Thế chiến Mỹ ‘dụ’ Nga tham dự vào đánh Nhật, Mỹ để cho Nga chiến bốn đảo phía bắc của Nhật. Nhật đòi hoài Nga không trả, chỉ có một lần khi ông Yeltsin định sang Nhật hứa trả hai đảo, đổi lại sự viện trợ rất lớn của Nhật. Nhưng rồi ông Yeltsin cũng không sang thăm được, vì có chống đối, rồi chẳng có gì xảy ra.

Giữa Trung Quốc và Việt Nam, trong cuộc chiến tranh năm 1979, sau đó năm 1984 Trung Quốc chiếm núi Lão Sơn mà đến bây giờ Trung Quốc đâu trả; huống chi Hoàng Sa Trung Quốc cho thuộc chủ quyền của họ. Cái thuộc chủ quyền của mình mà họ không trả thì nói gì đến cái mà họ cho là chủ quyền của họ. Đó là nói về vấn đề lý mà chúng ta thấy trên thế giới. Còn về tình, trong tình trạng dân tộc chủ nghĩa đang lên ở Trung Quốc, còn ông Tập Cận Bình sắp làm chủ tịch rồi, thì ông không có khả năng chính trị để làm chuyện ấy.

Vấn đề đặt ra nếu Việt Nam đòi, thì đòi được gì? Tôi nghĩ nếu Trung Quốc bằng lòng nhượng bộ, thì có một số chuyện mà họ có thể làm.

Việt Nam có thể yêu cầu Trung Quốc điều thứ nhất là ra lệnh cho tờ Hoàn Cầu Thời Báo chấm dứt những luận điệu và đe dọa đánh Việt Nam. Thứ hai, trong điều đình họ có thể định lại một cách bán chính thức vùng đánh cá gần đảo Hoàng Sa.
GS Nguyễn Mạnh Hùng
Thứ nhất trong cuộc gặp giữa ông Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào, họ ký thông cáo chung nói để làm giảm căng thẳng - dân chúng không còn tạo căng thẳng hơn, Việt Nam đã dẹp biểu tình rồi, báo chí Việt Nam không chỉ trích Trung Quốc nhiều nữa. Nếu có thể được, Việt Nam có thể yêu cầu Trung Quốc điều thứ nhất là ra lệnh cho tờ Hoàn Cầu Thời Báo chấm dứt những luận điệu và đe dọa đánh Việt Nam. Ít nhất đây là chỉ dấu có thể làm được.

Thứ hai, trong điều đình họ có thể định lại một cách bán chính thức vùng đánh cá gần đảo Hoàng Sa; bớt đòi hỏi của Trung Quốc kéo dài ra, để cho ngư dân Việt Nam có thể đánh cá, kiếm sống gần Hoàng Sa hơn, khỏi bị bắt bớ. Đó là hai điều mà Trung Quốc nếu có thiện chí thì có thể làm được.

Gia Minh: Điều gì có thể thúc đẩy để họ có thiện chí khác với thái độ và hành động mà họ làm lâu nay?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Tại vì Việt Nam đã cứng rắn hơn rồi. Ít nhất Việt Nam cũng làm được ba bốn việc. Thứ nhất Trung Quốc không muốn Việt Nam công khai hóa, thì Việt Nam công khai hóa; Trung Quốc không muốn Việt Nam đa phương hóa, thì Việt Nam đa phương hóa, chỉ có bảo Hoàng sa là vấn đề riêng giữa hai nước nên ‘nói’ song phương, còn Trường Sa là nhiều nước nên phải đa phương. Trung Quốc không muốn Việt Nam đi gần với Mỹ, thì Việt Nam đi gần với Mỹ. Việt Nam còn đi mua vũ khí để củng cố khả năng quốc phòng của mình.

Đối với việc biểu tình chống Trung Quốc nếu Việt Nam nhất định đàn áp cũng được, nhưng họ cũng để cho biểu tình. Trung Quốc thấy nhu cầu của chính phủ Việt Nam hiện nay không thể nào làm nhiều nhượng bộ hơn được. Nếu họ muốn có cảm tình của Việt Nam, muốn Việt Nam còn thân hữu với Trung Quốc, dĩ nhiên họ phải mềm dẻo lại. Chúng ta thấy Trung Quốc rất giỏi, họ tính chuyện rất lâu dài, ‘mềm nắn, rắn buông’. Nếu Việt Nam ‘rắn’, họ có thể hòa hoãn lại, có thể làm một số nhượng bộ nhỏ thôi.

Gia Minh: Cám ơn Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng về những phân tích đối với chuyến đi Việt Nam sắp đến của ông Tập Cận Bình.
Nguồn: RFA.  
 
-->đọc tiếp...

TRUNG QUỐC SẼ ĐƯA TÀU THĂM DÒ BIỂN SÂU XUỐNG BIỂN ĐÔNG

Trung Quốc sẽ đưa tàu thăm dò biển sâu xuống Biển Đông 

Tàu lặn Giao Long (video truyền hình Trung Quốc). Ảnh minh họa
Tàu lặn Giao Long (video truyền hình Trung Quốc). Ảnh minh họa

Trọng Nghĩa
 
Chủ trương khống chế tài nguyên dầu khí dưới lòng Biển Đông của Bắc Kinh ngày càng rõ nét. Sau khi quyết định đưa giàn khoan nước sâu khổng lồ CNOOC 981 xuống Biển Đông trong một hai tuần lễ sắp tới đây, ngày 15/12/2011 vừa qua, Trung Quốc đã cho xuất xưởng một chiếc tàu thăm dò biển sâu tối tân cũng sẽ hoạt động tại vùng Biển Đông.

Theo hãng tin Trung Quốc Tân Hoa Xã, con tàu thăm dò mang ký hiệu HYSY708 đã được xưởng đóng tàu Hoàng Phố ở Quảng Châu, thủ phủ tỉnh Quảng Đông (miền Nam Trung Quốc) bàn giao cho khách hàng là Công ty Dịch vụ Dầu khí Trung Quốc COSL. Đây là một tàu thăm dò thuộc loại hiện đại nhất do chính Trung Quốc chế tạo.

Dài 105 m, rộng 23,4m, trọng tải 11.600 tấn, con tàu có khả năng thăm dò ở độ sâu 3.000m dưới mặt biển, và khoan sâu 600 m dưới lòng biển. Tàu đã được thiết kế và trang bị bằng công nghệ tối tân để thực hiện việc thăm dò địa chất và địa chấn ở các vùng biển nước sâu.

Theo các nguồn tin từ tập đoàn chế tạo ra chiếc tàu này, sản phẩm của họ đã bổ khuyết một lỗ hổng của Trung Quốc trong lãnh vực thăm dò các vùng biển nước sâu. Các nguồn tin trên xác định rằng con tàu này sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc thăm dò và khai thác nguồn tài nguyên dầu khí tại vùng Biển Đông.

Việc cho chiếc tàu thăm dò hiện đại này xuống hoạt động ở vùng Biển Đông là một bước mới của Trung Quốc trong chiến lược khống chế tài nguyên dầu khí tại vùng Biển Đông, nơi mà Bắc Kinh tự nhận chủ quyền trên 80% diện tích, bất chấp phản đối của các láng giềng, từ Việt Nam, Philippines, Malaysia cho đến Brunei và Đài Loan.

Bước này đã tiếp nối theo quyết định đưa giàn khoan nước sâu đầu tiên của Trung Quốc xuống hoạt động tại Biển Đông.

Như RFI đã loan tin, một viên chức tập đoàn dầu hỏa Trung Quốc CNOOC, hôm thứ Ba 06/12/2011 vừa qua, đã tiết lộ là giàn khoan mang ký hiệu 981 của họ sẽ khoan mũi đầu tiên ở vùng phía Bắc Biển Đông « vào cuối tháng này hay đầu tháng Giêng ».

Điểm giống nhau giữa giàn khoan CNOOC 981 và tàu thăm dò HYSY708 là cả hai đều do Trung Quốc tự chế tạo, giúp cho nước này khỏi bị lệ thuộc vào nước ngoài, khi tiến hành hoạt động tại những vùng có tranh chấp.

Một bài viết trên Hoàn Cầu Thời Báo Global Times hồi tháng Năm vừa qua đã công khai khẳng định ý đồ của Trung Quốc, khi nói rõ là giàn khoan nước sâu sẽ giúp Bắc Kinh hiện diện mạnh mẽ tại vùng phía nam Biển Đông. Một chuyên gia Trung Quốc khi trả lời tờ báo, đã không ngần ngại tuyên bố : « Bây giờ khi đã có công nghệ để khai thác nguồn tài nguyên ở Biển Đông, Trung Quốc cần nỗ lực bảo vệ hoạt động của mình và răn đe các nước khác, không cho họ khai thác trái phép ».
-->đọc tiếp...